Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

Thông Báo Chuyển Đổi Website

Cảm ơn tất cả mọi người đã theo dõi trang này. 
Nhưng trong thời gian gần đây mình có công việc nên trì hoàn không viết bài về các công thức món ăn như lúc trước,. 
Hôm nay mình viết bài này để thông báo với mọi người rằng từ nay trang này sẽ chuyển đến website  saigonlives.com. !
Đây là website của bạn mình và mình sẽ cùng với họ làm việc và viết bài về chuyên mục ẩm thực bên trang đó.!
Nếu có thời gian mong mọi người hãy ghé thăm: saigonlives.com 
Thân chào,.!

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

Các Loại Thảo Mộc Dùng Trong Món Âu

Hôm nay mình có nhận được vài câu hỏi của các bạn làm Chef...vv. Nên mình sẽ cố gắng giải đáp các thắc mắc cho mọi người để các bạn có thể nắm được những kinh nghiệm và thành công trong công việc.!
Trong bài này mình cố gắng cập nhật hình ảnh và kiến thức về các loại thảo mộc và gia vị sẽ được dùng nhiều trong các công thức trong blog mà không phổ biến với người Việt Nam chúng ta. Các gia vị này đa số là gia vị phổ biến ở Ý và ở vùng Địa Trung Hải và các món Âu khác, chi tiết hơn nữa thì các bạn hãy đón xem các bài kế tiếp nhé.!
Bạn đã từng nghe tên các loại rau thảo mộc của Tây Âu từ câu hát đầu tiên trong bài Scarborough Fair: “Are you going to Scarborough fair? Parsely, Sage, Rosemary and Thyme”. Bốn loại rau thơm (Herb) này có thể coi là bốn loại chính để tẩm, ướp và nấu ăn trong các món âu của người phương Tây.
     1. Parsley: tên tiếng Việt là mùi (ngò) Tây. 

Parsley thực ra có hai loại nhưng parsley hay được dùng trong các món ăn Ý là loại flat parsley. Flat parsley có mùi nồng hơn nhưng cũng làm cho món ăn ngon hơn (nhất là trong chế biến). Parsley là một loại gia vị thảo dược rất giàu dinh dưỡng vì có rất nhiều chất sắt, natri và vitamin C.
Parsley thường được dùng rất nhiều trong các món ăn có nhiều hương vị. Parsley có thể được dùng trong các loại sốt, súp, các món hầm. Lá parsley cắt nhuyễn thường được dùng để rắc lên các món ăn lúc vừa nấu xong.
Để thử hương vị của lá parsley (flat parsley) thì làm món spaghetti với parsley và tỏi như ở đây thì có thể thấy parsley (đi với tỏi) thơm như thế nào.
     
2. Basil: tên tiếng Việt là lá húng tây. 
Basil có vị hơi cay cay, hơi ngọt, hợp với những món ăn đi kèm với cà chua như súp, salad, pizza (phổ biến nhất là đi cùng magheritta pizza)
Thực ra basil là húng quế nhưng Việt Nam gọi để phân biệt với húng quế của mình. Còn người ở đây thì gọi húng quế là Thai basil.
Basil làm cho món ăn có vị tươi mát. Một chậu basil như trong ảnh thế này có thể giữ được một tuần nếu tưới mỗi ngày một lần.
     
3. Thyme: tên tiếng Việt là cỏ xạ hương
Thyme thường dùng nấu các loại súp 
Thyme có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải và Nam Âu. Thyme hợp để đi kèm với cà rốt, khoai tây, cà chua, thịt bò, thịt gà, thịt cừu, hành tây và thường dùng để nấu trong các loại súp. Thyme (và bay leaf, lá nguyệt quế) thường mất thời gian nấu mới cho ra mùi thơm nên cũng thường hay dùng để nấu với các loại súp đậu cần hầm lâu, thịt bò hầm, …
     
4. Rosemary: tên tiếng Việt là cây hương thảo
Rosemary được dùng để tẩm ướp : Gà tây, thịt lợn, thịt gà, thịt thỏ và thịt cừu
Rosemary có mùi thơm rất đặc biệt, người ta bảo hơi giống trà nhưng vị thì hơi giống hạt thông (pinenuts). Rosemary thường được dùng trong các món rô ti, nướng… Chính vì thế mà rosemary được dùng để tẩm ướp gà tây trong lễ Thanksgiving. Rosemary nói chung được dùng với nhiều loại thịt: thịt lợn, thịt gà, thịt thỏ, thịt cừu (dùng rosemary thì thịt cừu hết đi mùi hôi của cừu). Rosemary cũng có thể được dùng trong các món rau, các món đi với cá và cà chua, nhưng chủ yếu là để tẩm ướp hoặc trong các món hầm. Dùng rosemary cho thịt bò beefsteak thì ra một món bò beefsteak của Ý. Ngoài ra nó cũng hợp với thịt bê, cá hồi, khoai tây, hành tây, nấm, đậu Hà Lan,…

Rosemary có mùi thơm rất lâu (có khi ăn xong mà trong bếp vẫn còn mùi thơm, rất thơm). Khi dùng thì có thể giã nhỏ, vò lá nếu có lá tươi. Nếu không có lá tươi thì dùng lá khô cũng được vì không như lá húng Tây, rosemary hay dùng để ướp và dùng trong các món nướng, hầm nên không nhất thiết phải là lá tươi.
       
5. Sage: tên tiếng Việt là cây xô thơm
Sage thích hợp với các loại thịt gia cầm
Sage có mùi nồng, ấm và hơi đắng (loại tươi ít đắng hơn loại khô). Sage thích hợp với các loại thịt gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng), thịt lợn và xúc xích. Đối với các loại rau thì sage thích hợp với cà tím (eggplant), cà chua, đậu. Nói chung sage hợp với các món ăn béo và bùi.
        
6. Saffron (tên tiếng Việt là gì nhuỵ hoa nghệ tây):
Saffron thường được dùng trong các món hải sản 
Saffron có nguồn gốc từ Tây Ban Nha, thường được dùng khi nấu các món hải sản, nổi tiếng nhất là seafood paella (cơm trộn với tôm, cua, mực,…) Saffron tạo cho những món hải sản có mùi thơm đặc trưng và cũng làm cho món ăn có màu vàng ruộm.
Khi dùng saffron chú ý không bao giờ cho thẳng vào nồi, chảo,… mà phải ngâm trong một ít nước ấm, để 5-10 phút rồi dùng nước đấy cho vào thức ăn đang nấu.
       
7. Oregano: (Một số ít người gọi tên tiếng Việt là lá Kinh Giới. ???).
Oregano và Marjoram
Oregano được dùng rất phổ biến trong pizza và thậm chí trong các loại bánh mặn trong các siêu thị ở Ý hay Tây Ban Nha. Oregano cũng được dùng để đi kèm với các món có tomato sauce và có mùi nồng, ấm.
Đối với loại rau này thì mua trong lọ đã sấy khô dùng là được vì oregano sấy mùi còn đậm đà hơn. Và khác với basil mang lại vị tươi mát, oregano ấm nên dùng loại sấy khô cũng không ảnh hưởng đến món ăn và nấu nướng.

Bên cạnh oregano còn có một loại rau khác có mùi tương tự nhưng nhẹ hơn là Marjoram.
Marjoram được dùng nhiều ở miền Bắc nước Ý còn Oregano thì phổ biến ở miền Nam. Marjoram có mùi nhẹ hơn nên cảm giác được vị ngọt. Loại rau thơm này được dùng nhiều để tăng thêm mùi thơm cho các loại thịt (bò, bê, gà,…), rau và các món súp. Marjoram đặc biệt hợp với cà rốt và dưa leo (dưa chuột) theo cách nấu ăn của Ý. Nhưng vì marjoram có mùi nhẹ, nên không nấu lâu (như thyme, rosemary hay bay leaf).
      
8. Bay leaf: tên tiếng Việt là lá nguyệt quế (chính xác là nguyệt quế Hy Lạp).
Bay leaf thường được dùng để tạo mùi thơm cho các món súp
Bay leaf thường được dùng để tạo mùi thơm cho các món súp và các món hầm. Bay leaf phổ biến ở các nước châu Âu nói chung chứ không riêng ở Ý.

Ngoài ra, lá nguyệt quế này còn được dùng để nấu món bò hầm cà rốt kiểu Pháp (mình sẽ viết công thức nếu có dịp) hay dùng để nấu vin chaud (tiếng Pháp, tiếng Đức là Gludwein). Ở đây món này cũng đặc biệt được uống/ phục vụ vào dịp X’mas.
        9. Tarragon: tên tiếng Việt là cây ngải giấm (tên tiếng Hà Lan và tiếng Anh khác là dragon herb)
Tarragon thích hợp với các loại sốt
Tarragon hơi có mùi hồi (anise) nên thích hợp trong nhiều loại sốt (hơi đặc, đặc biệt nó nổi tiếng trong Bearnaise sauce). Tarragon thích hợp để đi cùng trứng, các loại thịt gia cầm, hải sản và trong một vài món rau chẳng hạn như cà rốt, hành tây, nấm,…

Các loại rau thơm mình miêu tả ở đây là các loại rau chính trong nấu ăn của Ý, và vùng Địa Trung Hải nói chung. Mình còn sót một vài thứ như dill: thì là, nhưng chắc Việt Nam ai cũng biết cả; fennel: một loại có mùi thơm gần như hồi, ở dạng hạt và cây/ củ màu trắng, savory (tiếng Việt cũng là rau húng, rau thơm): hợp để nấu các món súp, các món có đậu hay hợp với pate; cardamom: gần như hồi ở Việt Nam. Nhưng theo mình nghĩ. Biết, mua và sử dụng những loại kể trên là đã nấu được nhiều món âu có mùi vị phương Tây thơm ngon rồi.

Ngoài ra bạn có thể dùng loại thảo mộc pha sẵn lọ gia vị khô Provence (Provence herbs/ Herbes de Provence). Thành phần chính trong lọ gia vị khô này là rosemary, thyme, basil. Ngoài ra có thể có thêm savory, fennel và lavender (hoa oải hương).Nếu không có công thức nấu ăn cụ thể thì thỉnh thoảng mình tự nghĩ ra và thử thêm với các loại gia vị này cũng vui, tiện và rẻ hơn mua các loại tươi.!

Qua bài viết này mình mong rằng có thể giải đáp những thắc mắc của các bạn và giúp ích cho các bạn thêm thông tin về các loại gia vị thảo mộc dùng trong các món Âu .!
Chúc các bạn thành công với những thông tin và kiến thức nêu trên.! Đừng quên like và share nếu bạn thấy bài viết hay và bổ ích nhé.!

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Ẩm Thực Nhật Bản ( Phần 4 các món ăn du nhập từ nước ngoài )

Tiếp theo các phần trước về Ẩm Thực Nhật Bản thì ở phần này là những món ăn được du nhập từ nước ngoài như: Pháp, Bồ Đào Nha, Trung Quốc...vào Nhật Bản và có 1 số món đã trở thành những món ăn nổi tiếng khắp thế giới.!
7. Các món ăn kiểu Tây 洋食
Một số lượng lớn các món ăn phương Tây đã được giới thiệu đến Nhật Bản từ nhiều thế kỷ trước. Nhiều món trong số đó đã được Nhật hóa hoàn toàn, và được gọi là món ăn Yoshoku. Một vài món ăn Yoshoku phổ biến nhất là:
Korokke コロッケ
Korokke có nguồn gốc từ món croquettes của Pháp, được du nhập đến Nhật Bản vào thế kỷ 19. Korokke bao gồm nhân được tẩm bột và chiên, và được ăn kèm với nước sốt Worcestershire và bắp cải thái sợi. Có nhiều loại Korokke khác nhau tùy vào nguyên liệu của nhân, và phổ biến nhất trong số đó là thịt băm trộn với khoai tây nghiền. 

Omuraisu オムライス
Omuraisu, viết tắt của omelete-rice, là cơm chiên bọc trong một lớp trứng ốp lết mỏng. Omuraisu thường có hình quả trám và có thể được trang trí với nước sốt cà chua hoặc nước sốt demi-glace. Đó là một món ăn hết sức phổ biến ở quán ăn hay quán cà phê, và ở một số nơi cũng có các nhà hàng đặc sản omuraisu.

 Hayashi Raisu ハヤシライス
Cơm Hayashi là món cơm trộn phong cách Nhật Bản gồm thịt bò vụn hầm, thịt bò xắt lát mỏng và hành tây hầm trong nước sốt và ăn với cơm. Cơm Hayashi rất tương tự như cơm càri, và giống như kare raisu.!


Hambagu ハンバーグ
Hambagu là món nhân hăm bơ gơ rán lên và ăn như thức ăn mặn. Khác với bánh hamburger gồm thịt kẹp với bánh mì,. Hambagu Nhật thường được phục vụ trên một đĩa với rau bên cạnh ăn cùng cơm hoặc bánh mì và nước sốt kèm theo.!


8. Các món ăn khác
Bento 弁当=べんとう
Bento, hay cơm hộp, là món cơm phần dành cho 1 người ăn và đựng trong hộp. Các thức ăn trong cơm hộp thường bao gồm thịt thái nhỏ, rau, cá, hoặc dưa chua và cơm. Bento cả nóng và nguội – có thể được bán ở từ các nhà hàng đặc sản, siêu thị cho đến các cửa hàng tiện lợi, và là một món ăn được yêu thích tại các ga tàu và sân bay.


Tempura 天ぷら
Tempura gồm có hải sản, rau, nấm hoặc thịt phủ một lớp bột và chiên ngập trong dầu. Sau khi rán phần nhân chín mềm, nhưng phần vỏ giòn, có thể được chấm với muối hoặc nước sốt nhạt trước khi ăn. Tempura được du nhập vào Nhật Bản bởi người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16, và đã trở thành một trong những món ăn nổi tiếng nhất của Nhật Bản.


Okonomiyaki お好み焼き
Okonomiyaki là một loại bánh gồm có các thành phần như hải sản, rau và thịt được trộn lẫn vào bột và nướng lên trên bản sắt. Nhà hàng đặc sản Okonomiyaki thường có một bếp bản sắt lớn đặt tại bàn ăn, và các khách hàng quen có thể tự nướng phần Okonomiyaki của mình.  


Monjayaki もんじゃ焼き
Monjayaki là món đặc sản của khu vực Kanto tương tự như okonomiyaki; Tuy nhiên, món này sử dụng bột mỏng hơn nhiều so với okonomiyaki, và vì thế các nguyên liệu không đều và món ăn còn hơi nhão và rời rạc. Monjayaki thường được phục vụ tại các nhà hàng okonomiyaki.


Gyoza 餃子
Gyoza là bánh bao có vỏ bột nếp, nhồi với nhân gồm có rau thái nhỏ và thịt xay.Gyoza du nhập đến Nhật Bản từ Trung Quốc. Gyoza Nhật Bản thường được chiên chứ không hấp giống như Trung Quốc, và là món phổ biến để ăn cùng với Ramen  


Chawanmushi 茶碗蒸し
Chawanmushi là món trứng hấp thập cẩm thường chứa thịt gà thái miếng, tôm, cá và một hạt cây Ginko trộn lẫn bên trong. Chawanmushi thường được trình bày trong một cốc nhỏ có nắp, và ăn bằng thìa.


Các món dưa chua 漬け物=つけもの

Dưa chua Nhật Bản, hoặc tsukemono, có nhiều loại, và được phục vụ như một món khai vị, món ăn mặn, hoặc ăn nhẹ, hoặc dùng để trang trí các món khác. Các món dưa chua được cho là hỗ trợ tiêu hóa, và một đĩa dưa chua nhỏ thường xuất hiện trong các bữa ăn truyền thống Nhật Bản.

Ẩm thực Nhật Bản nói riêng và của thế giới nói chung điều có những cách chế biến đặc biệt khác nhau.! Tại đây mình chỉ giới thiệu về những món ăn cơ bản mà mình tìm hiểu và tham khảo được trong quá trình làm việc cùng với những đồng nghiệp người Nhật được họ chia sẽ. Cũng giống như các nước khác trên thế giới mỗi vùng miền của Nhật Bản điều có cách chế biến món ăn khác nhau.

Các bài viết ở website này chỉ mang tính tham khảo gồm những kiến thức mà mình đã thực nghiệm và một số nguồn tài liệu và hình ảnh mà mình sưu tầm trên internet.! 
Mọi chi tiết các bạn có thể để lại comment phía dưới bài viết để cùng mình trao đổi thêm nhé.!

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2015

Ẩm Thực Nhật Bản( phần 3 )

5. Các món thịt 肉
Phải từ nửa cuối của thế kỷ 19 ở Nhật thói quen ăn thịt mới được phổ biến rộng rãi. Ngày nay có rất nhiều loại thịt phổ biến ở Nhật Bản như:
Yakitori 焼き鳥=やきとり

Yakitori là thịt gà cắt miếng, xiên que và nướng, có thể nêm thêm muối hoặc nước sốt. Hầu như tất cả các phần của gà được sử dụng cho yakitori bao gồm cả thịt trắng và đen, mề, da, và các cơ quan khác
Tonkatsu 豚カツ
Tonkatsu là món thịt lợn cốt lết chiên. Tonkatsu thường được ăn kèm với bắp cải cắt nhỏ, hoặc được ăn cùng cơm (gọi là katsudon カツ丼=かつどん). Đây cũng là thứ thức ăn mặn kèm với cà ri kiểu Nhật (Katsu kare-カツカレー) rất phổ biến.

Yakiniku (焼肉)
Yakiniku có nghĩa là “thịt nướng”, là món thịt cắt nhỏ – chủ yếu là thịt bò và thịt lợn – được nướng trên một chiếc vỉ đặt tại bàn. Các nhà hàng chuyên yakiniku là một trong những loại nhà hàng nổi tiếng nhất ở Nhật Bản, và thường phục vụ thịt ở các phần khác nhau, cũng như các loại thịt chất lượng cao cũng như thấp.
Nikujaga 肉じゃが
Nikujaga là một món ăn tại nhà, làm từ thịt (niku 肉=にく) và khoai tây (jagaimo じゃがいも) hầm trong nước dùng vị nước tương ngọt.

Teppanyaki 鉄板焼き
Thịt, hải sản và rau được đặt trên một vỉ sắt lớn (teppan 鉄板=てっぱん) xung quanh là thực khách đang ngồi. Các đầu bếp khéo léo chuẩn bị các món ăn ngay trước mặt khách hàng của mình.
6. Các món ăn từ đậu nành
Đậu phụ, natto (納豆=なっとう), miso (味噌=みそ) và nhiều thành phần quan trọng khác của ẩm thực Nhật Bản được làm từ đậu nành. Sau đây là một số món ăn từ đậu nành phổ biến nhất:

Hiyayakko 冷奴=ひややっこ
Hiyayakko là đậu phụ tươi ướp lạnh (thường là đậu phụ mềm) thường được trang trí với gừng xay nhuyễn, katsuobushi (鰹節=かつおぶし cá ngừ khô bào mỏng), hành lá và nước tương đậm. Thực khách có thể rưới nước tương vào đậu phụ trước khi ăn.

Yudofu 湯豆腐=ゆどうふ
Yudofu là món đậu phụ thái nhỏ luộc trong một loại nước dùng trong và nhạt, và được chấm vào nước tương hoặc sốt ponzu trước khi ăn. Yudofu là một đặc sản của Kyoto và thường được ăn nhiều trong những tháng mùa đông lạnh.


Agedashidofu 揚げ出汁豆腐=あげだしどうふ

Agedashidofu được làm bằng đậu phụ tẩm một chút bột, chiên lên và được ăn nóng với nước dùng (dashi 出汁=だし), thường được trang trí bằng hành lá hoặc củ cải xay nhuyễn (卸大根=おろしだいこん). 
Agedashidofu được phục vụ trong nhiều nhà hàng và là món ăn phổ biến ở các quán rượu – izakaya

Miso Soup 味噌汁=みそしる
Súp miso được chế biến bằng cách hòa tan tương miso với nước cốt cá (dashi), thường được cho thêm rong biển wakame (若布=わかめ), đậu phụ xắt miếng nhỏ, hay đậu phụ chiên thái lát, v.v..

Đến đây đã là 1 chặn đường khá dài rồi,. Nhưng tất cả chỉ là 1 góc nhỏ của ẩm thực mà thôi. Phần 3 này mình đã chia sẽ những món ăn rất phổ biến của xứ sở Hoa Anh Đào mà hiện nay đã được rất nhiều người yêu thích.!
Trong các phần sau mình sẽ hướng dẫn các bạn cách chế biến và những công thức món ăn mà các bạn có thể tự chế biến để thưởng thức hay để dành cho một buổi party....!
Hãy đón đọc và nếu có thắc mắc gì hãy cho mình 1 comment nhé.!